VITAMIN VÀ KHOÁNG CHẤT VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
Vitamin là những hợp chất hữu cơ có trong tự nhiên hay được tổng hợp, mà phần lớn cơ thể không tự tổng hợp được. Hàng ngày cơ thể con người cần một lượng nhỏ vitamin cho các hoạt động của cơ thể. Vitamin tham gia vào quá trình chuyển hoá trong cơ thể, đóng vai trò như một xúc tác sinh học (enzyme) cho nhiều phản ứng. Được dùng như thuốc đặc trị, trong các bệnh chứng có triệu chứng hoặc tổn thương thực thể liên quan đến khi thiếu hụt hay thừa vitamin có thể gây ra những trạng thái bệnh lý trong cơ thể.

Những nguyên nhân thiếu hay thừa vitamin được bắt đầu từ:

+ Nguồn thức ăn cung cấp hàng ngày cho cơ thể không đủ hoặc rất ít Vitamin.

+ Do ống tiêu hoá có bệnh lý nên không hấp thu được vitamin, người bị bệnh đã sử dụng kháng sinh lâu dài, làm tiêu diệt vi khuẩn tổng hợp một số Vitamin…

+ Các vitamin tan trong dầu nếu dùng liều cao lâu dài xảy ra nên tình trạng thừa vitamin. Gây bệnh lý khô da, tróc vẩy, tăng áp lực nội sọ, tăng Canxi huyết, giảm chức năng gan và thận…

 Việc bổ sung hợp lí khoáng chất và vitamin cho sự phát triển cơ thể là việc làm rất cần thiết.

Khoáng chất

Chất sắt: Là một chất có nhiều trong rau muống, trong thịt, cá, trứng, ngũ cốc, mè, đậu… Lượng chất sắt cung cấp qua đường ăn uống thường thì không đầy đủ nhất là các phụ nữ có thai cần phải được uống viên sắt, đều đặn mỗi ngày cho đến sau khi sinh theo hướng dẫn cán bộ y tế.

Chất kẽm: Thức ăn cung cấp kẽm tốt nhất là thịt, cá, các loại hải sản, các thức ăn thực vật có kẽm nhưng hàm lượng rất thấp và hấp thu kém.

Các vitamin cần thiết cho sự phát triển cơ thể con người

Vitamin A: Có vai trò đặc biệt quan trọng, trong phòng và chữa bệnh khô mắt, quáng gà, tham gia vào chức năng thị giác. Bệnh lí ngoài da : bệnh vẩy cá, làm mau lành vết loét, vết thương, bỏng, trẻ em chậm phát triển và bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp. Thiếu vitamin A sẽ làm  khô mắt, quáng gà, mù lòa, khô da, teo niêm mạc. Vitamin A có nhiều trong các loại thức ăn như: dầu gan cá, bơ, sữa, lòng đỏ trứng các loại rau xanh nhất là rau ngót, rau dền, rau muống, các loại củ quả có màu vàng, màu đỏ như : cà rốt, bí đỏ, đu đủ, gấc (Dầu gấc có nhiều caroten), không nên tự ý uống vitamin A chỉ được uống khi có chỉ định của y, bác sỹ.

Vitamin D: Ngày nay được dùng nhiều trong công tác phòng và chữa các bệnh còi xương chậm lớn ở trẻ, biến dạng xương, chứng loãng xương, nhuyễn xương ở người lớn, xương gẫy chậm lành, trẻ em chậm mọc răng. Các bệnh ngoài da : bệnh vẩy nến, eczema mạn tính, xơ cứng bì, trứng cá. Nhược năng tuyến cận giáp, chứng hạ canxi mãn tính. Tuy nhiên việc sử dụng canxi cần thận trọng cho phụ nữ mang thai, những bệnh nhân có tiền sử tăng canxi huyết, bệnh cấp về gan và thận. Canxi có nhiều trong động vật từ dầu gan cá, bơ, sữa, lòng đỏ trứng.

 

Vitamin E: Là chất oxy hoá mạnh, bảo vệ màng tế bào, các thành phần thiết yếu của tế bào khỏi bị tấn công của gốc tự do và tránh thành lập các sản phẩm độc của sự oxy hoá. Được dùng trong điều trị vô sinh, xẩy thai liên tiếp, dùng trong các bệnh teo cơ do thần kinh, nhược cơ, một số bệnh lí về tim mạch. Vitamin E có nhiều trong các loại rau cải, rau xà lách. mỡ, bơ, lòng đỏ trứng, mè đen.

Vitamin K: Vitamin K1 có trong thực vật như : cà chua, đậu, bắp cải, cà rốt, vitamin K2 được vi khuẩn ruột tổng hợp, vitamin K3 ; K4 là những chất tổng hợp tan trong nước. Dùng phòng và chữa chảy máu trong các trường hợp thiếu vitamin K, điều trị hiện tượng xuất huyết do thiếu prothrombin.

Vitamin B1: Là 01 nguyên tố cần thiết cho sự chuyển hoá glucid. Có nhiều trong men bia, cám gạo, các hạt họ đậu tương là những nguồn vitamin B1 tốt cho sức khỏe của bà mẹ mang thai và cho con bú. Vitamin B1 được dùng để điều trị chứng tê phù ( beri – beri ), viêm đa dây thần kinh do nghiện rượu, phòng ngừa thiếu B1. Muốn có đủ vitamin B1 gạo không nên giã hoặc xay quá trắng sẽ làm mất đi rất nhiều vitamin B1, không nên sử dụng gạo đã bị mục, mốc.

Vitamin B2: Là chất tham gia vào phản ứng oxy hoá - khử carbonhydrat và các acid amin, có tác dụng dinh dưỡng ở da và niêm mạc. Nếu cơ thể thiếu Vitamin B2 gây : rối loạn tiêu hoá, viêm da, viêm giác mạc, lưỡi, loét môi, tăng tiết bã nhờn, thiếu máu. Vitamin B2 được dùng điều trị tổn thương mắt, da niêm mạc, viêm kết mắt, viêm màng mắt, viêm loét lưỡi miệng, giảm đau nửa đầu. Vitamin B2 có nhiều trong sữa và các sản phẩm của sữa, sữa chua, kem… men bia, tinh bột, hoa quả, lòng trắng trứng.

Vitamin PP: Có nhiều trong men bia, ngũ cốc, gan, thịt, sữa, vi khuẩn ruột. Cơ thể thiếu vitamin PP gây nên chứng đau họng, viêm miệng, lưỡi, viêm da, sụt cân, tiêu chảy, sa sút trí tuệ. Được dùng chữa các bệnh gellagra (các rối loạn ngoài da, rối loạn thần kinh, tiêu hoá, suy nhược cơ thể …), thận trọng khi dùng cho người bệnh gan, loét dạ dày.

Vitamin B6: có nhiều trong động, thực vật như : men bia, lúa mì, đậu, gan, thịt…Nếu thiếu vitamin B6 gây chứng đau họng, viêm da, tăng tiết bã nhờn, viêm lưỡi…viêm dây thần kinh ngoại biên, thiếu máu, co giật, thiếu B6 thường kèn theo thiếu PP. Vitamin B6 được dùng chữa các chứng viêm dây thần kinh, rối loạn thần kinh, viêm da, các bệnh bệnh về da do thần kinh, nhiễm độc khi có thai, thiếu máu, co giật ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, ngộc độc cấp tính INH.

Vitamin B12: có nhiều trong gan động vật, lòng đỏ trứng hay được tổng hợp hoá học. Vitamin B12 cần thiết cho sự cấu tạo và phát triển của hồng cầu, tham gia vào quá trình sinh hoá cơ thể, bảo vệ cơ thể chống nhiễm độc, nhiễm khuẩn. Được chỉ định điều trị chứng thiếu máu ác tính sau phẫu thuật, sau sinh, viêm dây thần kinh, chống thoái hóa mỡ, trẻ em chậm lớn. Không nên dùng cho trường hợp thiếu máu không rõ nguyên nhân, ung thư, mẫn cảm với Vitamin B12.

Vitamin C: Ngoài các vitamin trên vitamin C giúp tăng sức đề khoáng cho cơ thể, hỗ trợ hấp thu sắt góp phần phòng chống thiếu máu do thiếu sắt dinh dưỡng. Vitamin C có nhiều trong bưởi, cam và các loại quả chín khác và rau xanh có trong tự nhiên. Nếu thiếu vitamin C gây xuất huyết dưới da, vết bầm, chảy máu nướu răng, trường hợp thừa vitamin C đường uống gây kích thích dạ dày, đầy hơi, tiêu chảy, liều cao đường tiêm gây suy thận nặng, loạn nhịp tim, gây tan máu ở người thiếu G6PD. Vitamin C tác động trên cơ thể làm chất chống oxy hoá mạnh, tạo ra hydroxyrolin là phần chính của mô liên kết. Tham gia chuyển hoá protid, glucid, lipid. Được dùng chữa bệnh Scorbut, các trường hợp cần tăng sức đề kháng cơ thể trong nhiễm khuẩn, nhiễm độc, cúm mệt mỏi. Không dùng liều cao ở người có tiền sử bệnh suy gan, thận.

Việc bổ sung vitamin cho cơ thể là rất cần thiết. Tuy nhiên ở người đang phát triển bình thường, việc bổ sung vitamin tốt nhất là qua đường ăn, uống có chứa nhiều vi chất dinh dưỡng. Chỉ dùng vitamin khi thật cần thiết cho người bị suy nhược cơ thể, người bị ốm sau cơm bệnh nặng kéo dài... với liều lượng thích hợp, nên dùng đường uống thay cho đường tiêm. Các vitamin tan trong dầu khi dùng ở liều cao lâu dài dễ tích tụ gây bệnh lý thừa vitamin, khi điều trị thiếu vitamin, nên dùng phối hợp nhiều loại vitamin, chỉ sử dụng cho cơ thể khi thiếu chính bản thân của vitamin đó./.

 

                                                                                                 (hình ảnh trong bài viết – sưu tầm)                                                                                                                                            Hoàng Vũ – CDC.TV

THÔNG BÁO

   


















Thống kê truy cập
  • Đang online: 2
  • Hôm nay: 159
  • Trong tuần: 1 377
  • Tất cả: 3597718

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ Y TẾ TRÀ VINH
- Đơn vị quản lý: Sở Y tế Trà Vinh.
- Địa chỉ: 16A, đường Nguyễn Thái Học, P1, TPTV, tỉnh Trà Vinh.
- Email:soytetv@travinh.gov.vn - Điện thoại: 0294.3862399. Fax: 0294.3864255
Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Sở Y tế tỉnh Trà Vinh" khi phát hành lại thông tin từ website này. Designed by VNPT
Chung nhan Tin Nhiem Mang